Kiến Thức

Rừng là gì?

Rừng là gì? Câu hỏi nghe có vẻ đơn giản nhưng không phải ai cũng hiểu rõ khái niệm rừng là gì và vai trò của nó. Trong bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ định nghĩa về rừng cũng như vai trò của rừng, các nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng để các bạn tham khảo.

1. Khái niệm rừng là gì?

Căn cứ pháp lý: Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004

Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.

2. Vai trò của rừng

Rừng là hệ sinh thái trong đó quần xã cây rừng đóng vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa sinh vật và môi trường. Rừng có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người cũng như đối với môi trường: cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hòa, tạo ôxy, điều tiết nước, môi trường sống cho động thực vật, lưu giữ nguồn gen. quý hiếm, phòng, chống gió bão, chống xói mòn đất, đảm bảo cuộc sống, bảo vệ sức khỏe con người …

Do đó, tỷ lệ đất có rừng của một quốc gia là một chỉ tiêu quan trọng về an ninh môi trường (diện tích đất có rừng tối ưu để đảm bảo an toàn môi trường của một quốc gia là 45% tổng diện tích).

Mối quan hệ của rừng và sự sống đã trở thành mối quan hệ hữu cơ. Không một dân tộc, một đất nước nào không biết đến vai trò quan trọng của rừng đối với cuộc sống. Tuy nhiên, ngày nay ở nhiều nơi người dân đã không còn sức bảo vệ rừng, chặt phá bừa bãi khiến tài nguyên rừng khó phục hồi và ngày càng cạn kiệt. thành đồi trọc, hoang mạc, nước mưa tạo thành lũ cuốn trôi chất dinh dưỡng, gây lũ lụt, sạt lở đất cho vùng đồng bằng, gây thiệt hại lớn về tài sản và tính mạng của nhân dân. Vai trò của rừng đối với việc bảo vệ môi trường đang trở thành vấn đề thời sự và thu hút sự quan tâm của toàn thế giới.

Rừng giữ không khí trong lành: Do chức năng quang hợp của cây xanh, rừng là một nhà máy sinh học tự nhiên thường xuyên thu nhận CO2 và cung cấp O2. Đặc biệt ngày nay khi hiện tượng trái đất nóng lên do hiệu ứng nhà kính thì vai trò của rừng trong việc giảm thiểu khí CO2 là rất quan trọng.

Rừng điều tiết nước, chống lũ lụt, xói mòn: Rừng có vai trò điều hòa nguồn nước, giảm dòng chảy bề mặt và chuyển nó thành lượng nước thấm xuống đất và vào tầng chứa nước. Khắc phục xói mòn đất, hạn chế bồi tụ lòng sông, lòng hồ, điều tiết dòng chảy sông suối (tăng lượng nước sông suối vào mùa khô, giảm lượng nước sông suối vào mùa mưa).

Rừng bảo vệ độ phì nhiêu và bồi đắp tiềm năng của đất: ở những nơi có đủ rừng, dòng chảy được kiểm soát và chống xói mòn, đặc biệt là trên những vùng đồi dốc, tác dụng đó rất hiệu quả, nên lớp đất bề mặt không bị mỏng đi, tất cả đều có tính lý – Các đặc tính hóa học và vi sinh của đất không bị phá hủy, độ phì nhiêu được duy trì. Rừng liên tục sản xuất chất hữu cơ. Điều này được phản ánh trong quy luật phổ quát: rừng tốt làm đất tốt, đất tốt sinh ra rừng tốt.

Nếu rừng bị tàn phá, đất bị xói mòn thì quá trình mất mùn và thoái hóa đất có thể diễn ra rất nhanh và mạnh. Ước tính ở những nơi rừng bị phá, đất trống bị cuốn trôi hàng năm khoảng 10 tấn mùn / ha. Đồng thời, các quá trình feralit hóa, tích tụ sắt và nhôm, hình thành các cục và sau này là quá trình hóa đá được tăng cường, làm cho đất bị mất các đặc tính lý hóa, mất vi sinh vật, khả năng giữ nước và dễ bị hạn hán. , thiếu chất dinh dưỡng, trở nên rất chua, cứng lại, đi đến cằn cỗi, trơ sỏi đá. Thể hiện một quy luật cũng khá phổ biến, trái ngược hoàn toàn với quy luật trên, đó là rừng mất thì đất cũng kiệt, đất khô thì rừng cũng tàn, ta có thể tóm tắt là sau:

Điều đó lý giải tại sao trong các đợt phát rừng ở miền núi trước đây, dù đất có tốt đến mấy cũng chỉ được một thời gian ngắn là bị hư hại.

Ngoài ra, Rừng còn có vai trò to lớn trong việc: chống cát bay di động ven biển, che chở cho đất liền, bảo vệ đê biển, cải tạo các vùng đất chua, cung cấp gỗ, lâm sản và sinh cảnh cho rừng. Nơi sinh sống của nhiều loài động vật. Động vật rừng cung cấp thực phẩm, dược liệu, nguồn gen quý, lông thú, sừng động vật là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị.

3. Nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng

Bảo vệ và phát triển rừng phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm phát triển bền vững về kinh tế – xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; phù hợp với quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương; tuân thủ quy chế quản lý rừng do Thủ tướng Chính phủ quy định. Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo các nguyên tắc quản lý rừng bền vững; kết hợp bảo vệ và phát triển rừng với khai thác hợp lý để phát triển hiệu quả tài nguyên rừng; kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi, tái sinh, trồng rừng, làm giàu rừng với bảo vệ diện tích rừng hiện có; kết hợp lâm nghiệp với nông nghiệp và ngư nghiệp; đẩy mạnh trồng rừng kinh tế gắn với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản nhằm nâng cao giá trị lâm sản. Việc bảo vệ và phát triển rừng phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Việc giao, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng rừng và đất phải tuân theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Đất đai và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm ổn định. quyết định lâu dài theo hướng xã hội hóa lâm nghiệp. Giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế của rừng với lợi ích của Nhà nước và chủ rừng; giữa lợi ích kinh tế của rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường và bảo tồn thiên nhiên; giữa lợi ích ngắn hạn và lợi ích dài hạn; đảm bảo người dân sống chủ yếu bằng nghề rừng. Chủ rừng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng rừng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật mà không ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của chủ rừng khác.

Để bảo vệ và phát triển rừng, nghiêm cấm các hành vi sau đây: Khai thác, phá rừng trái phép. Săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật hoang dã trái pháp luật. Thu thập mẫu vật bất hợp pháp trong rừng. Hủy hoại trái phép tài nguyên rừng và hệ sinh thái rừng. Vi phạm các quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng. Vi phạm quy định về phòng, trừ sinh vật gây hại. Lấn, chiếm, chuyển mục đích sử dụng rừng trái pháp luật. Khai thác trái phép cảnh quan, môi trường và dịch vụ lâm nghiệp. Vận chuyển, chế biến, quảng cáo, kinh doanh, sử dụng, tiêu thụ, tàng trữ, xuất khẩu, nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng trái quy định của pháp luật. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Chăn thả gia súc trong các phân khu được bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng, trong rừng trồng mới và rừng non. Nuôi, trồng, thả vào rừng đặc dụng các loài động vật không phải là động vật bản địa khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. Khai thác trái phép tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên khác; thay đổi cảnh quan tự nhiên, diễn biến tự nhiên của rừng; ảnh hưởng xấu đến đời sống tự nhiên của các loài sinh vật rừng; đưa trái phép hóa chất độc, chất nổ, chất dễ cháy vào rừng. Giao rừng, cho thuê rừng, chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng hoặc giá trị rừng sản xuất là rừng trồng trái pháp luật. Phá hoại các công trình phục vụ bảo vệ và phát triển rừng. Các hành vi khác xâm phạm tài nguyên rừng và hệ sinh thái rừng.

4. Ai được nhận tiền DVMTR

Tất cả các tổ chức, cá nhân có diện tích rừng cung ứng DVMTR đều được nhận tiền chi trả DVMTR (trích dẫn Điều 8, Nghị định 99/2010/NĐ-CP), cụ thể:

a) Một là: Các chủ rừng của các khu rừng có cung ứng DVMTR, gồm:

– Các chủ rừng là tổ chức Nhà nước được giao rừng, cho thuê rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp và các chủ rừng là tổ chức tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được giao.

– Các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng; cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao rừng để sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; các chủ rừng là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn tự đầu tư trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp được Nhà nước giao.

b) Hai là: Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn có hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài với các chủ rừng là tổ chức nhà nước (gọi chung là hộ nhận khoán).

5. Loại rừng nào thì được trả tiền DVMTR

Rừng được chi trả tiền DVMTR là các khu rừng (kể cả rừng trồng và rừng tự nhiên), thuộc đối tượng: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất nằm trong qui hoạch lâm nghiệp của tỉnh, có cung cấp một hay nhiều DVMTR (trích dẫn Khoản 1 Điều 4, Nghị định 99/2010/NĐ-CP).

XEM THÊM TẠI: LINK

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.